“Ăn” trong quan niệm truyền thống của người Việt qua ca dao
Và quan niệm về ăn của người Việt không chỉ dừng ở vị trí của ăn mà còn thể hiện ở cơ cấu bữa ăn, cách chế biến thức ăn, phong cách ăn uống và quan hệ ăn uống với cộng đồng.
Do bị chi phối bởi điều kiện tự nhiên, xã hội nên cơ cấu bữa ăn của người Việt là CƠM - RAU - CÁ, sử dụng những vật phẩm sản xuất tại chỗ và dễ kiếm tìm của nền văn minh thảo mộc, sông nước.
Từ những nguồn nguyên liệu cơ bản này, người Việt Nam đã chế biến ra hàng trăm món ăn khác nhau, phụ thêm nhiều đồ gia vị, tạo sự “tương hoà” cũng như sự ngon miệng trong sự đơn giản; từ ninh, kho, nấu, luộc đến các món ăn tươi sống. Nói chung người Việt ăn ít thịt. Bữa cơm đạm bạc được kích thích thêm bởi những yếu tố tâm lý:
“Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”
Người Việt
"Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Mẹ ơi mẹ hỡi mua tôi củ riềng”
Quan niệm của người Việt về ăn cũng còn là sự thể hiện văn hoá đối xử: “ăn trông nồi, ngồi trông hướng” hay “ăn một miếng, tiếng để đời”. Và vì “ có khó mới có mếng ăn, không dưng ai dễ đem phần đến cho” nên “của biếu là của lo, của cho là của nợ”
Người Việt
Qua ăn uống, người Việt Nam cũng biểu hiện quan hệ với cộng đồng, từ gia đình với bữa cơm gia đình đến họ hàng làng nước trong những dịp lễ tết, khao vọng, giỗ chạp, hội hè, yến tiệc. Trong cộng đồng gia đình, các thành viên thường quây quần xung quanh mâm cơm với những món ăn chung và chén nước măm chung. Trong bữa ăn của người Việt cũng đề cao tính tôn ti trật tự ( mời cơm trước và sau khi ăn, hay những người gìa cả thì được ngồi mâm trên…).
Ăn uống của người Việt còn mang tính hướng ngoại. Người ta có thể rất tiết kiệm, giản dị trong bữa ăn hàng ngày nhưng lại rất hào phóng đến mức hoang phí trong yến tiệc, hội hè, khao vọng bởi trong đó có vấn đề danh dự và sĩ diện
“ Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”
Nói tóm lại, ăn là văn hoá lớn của người Việt
1. Ăn phân biệt giàu nghèo: “Đũa mốc mà chòi mâm son”
2. Ăn phân biệt vùng miền: “ Bữa ăn thấy thiếu dăm chùm ớt.
Mới thấy lòng ta nhớ Huế nhiều”
3. Ăn phân biệt giới tính, tuổi.
4. Ăn là chia sẻ, hướng ngoại: "Nhịn miệng đãi khách đường xa,
Ấy là dành để chồng ta đi đường"
5. Ăn thể hiện tính cộng đồng: "ăn một mình đau tức, làm một mình cực thân"
6. Và qua văn hoá ăn để giáo dục con người về: tính chăm chỉ: “ Có làm thì mới có ăn. Không dưng ai dễ đem phần đến cho”; tính tiết kiệm: “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”; ứng xử, đạo đức: “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “ăn tuỳ nơi, chơi tuỳ chốn”.v.v…
Ngày nay, cơ cấu bữa ăn có thay đổi nhiều do đời sống kinh tế xã hội đang không ngừng phát triển, nhưng những nét đặc trưng trên vẫn không mất đi. Bởi thế, chỉ cần nhìn vào văn hoá ăn của người Việt là chúng ta đã có thể hiểu dược tính cách Việt và tâm hồn Việt.