“Ăn” trong quan niệm truyền thống của người Việt qua ca dao

18/04/2007
Trên thế giới có bao nhiêu dân tộc, bao nnhiêu quốc gia thì có bấy nhiêu cách quan niệm về ăn uống, ngoài quan niệm chung là ăn để tồn tại. Riêng Việt Nam thì từ “ dĩ thực vi bản” ( lấy ăn làm chủ yếu) đã trở thanh “dĩ thực vi thiên” ( lấy ăn làm trời) nên “ Ghen vợ ghen chồng không nồng bằng ghen ăn”. Và trong văn hoá Việt Nam thì văn hoá ăn là văn hoá lớn nhất, chả thế mà người Việt thường dạy: “Học ăn- học nói- học gói- học mở”, vậy trong những cái cần học thì “ăn” được xếp hàng đầu. Hơn nữa, đối với người Việt, mọi thứ đều dược quy về cái ăn: ăn ở, ăn mặc, ăn chơi, ăn diện.v.v…Do đó, ăn đối với người Việt có nghĩa phong phú. Nếu người Pháp từ ăn có 37 nghĩa, người Trung quốc có 49 nghĩa đã là nhiều lắm rồi thì với Việt Nam, con số này lên tới 108.

Và quan niệm về ăn của người Việt không chỉ dừng ở vị trí của ăn mà còn thể hiện ở cơ cấu bữa ăn, cách chế biến thức ăn, phong cách ăn uống và quan hệ ăn uống với cộng đồng.

Do bị chi phối bởi điều kiện tự nhiên, xã hội nên cơ cấu bữa ăn của người Việt là CƠM - RAU - CÁ, sử dụng những vật phẩm sản xuất tại chỗ và dễ kiếm tìm của nền văn minh thảo mộc, sông nước.

Từ những nguồn nguyên liệu cơ bản này, người Việt Nam đã chế biến ra hàng trăm món ăn khác nhau, phụ thêm nhiều đồ gia vị, tạo sự “tương hoà” cũng như sự ngon miệng trong sự đơn giản; từ ninh, kho, nấu, luộc đến các món ăn tươi sống. Nói chung người Việt ăn ít thịt. Bữa cơm đạm bạc được kích thích thêm bởi những yếu tố tâm lý:

“Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”

Người Việt Nam nổi bật nhất trong phương pháp chế biến thức ăn của mình, đó là việc thêm gia vị. Món ăn của người Việt bao giờ cũng là sự tổng hợp của rất nhiều gia vị khác nhau: vị cay của ớt, vị chua của chanh, giấm, vị ngọt của đường  (chỉ riêng một chén nước mắm cũng tập trung hầu hết các vị rồi). Người Việt Nam không ai là không biết đến bài ca dao:

"Con gà cục tác lá chanh

Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi

Con chó khóc đứng khóc ngồi

Mẹ ơi mẹ hỡi mua tôi củ riềng”

Quan niệm của người Việt về ăn cũng còn là sự thể hiện văn hoá đối xử: “ăn trông nồi, ngồi trông hướng” hay “ăn một miếng, tiếng để đời”. Và vì “ có khó mới có mếng ăn, không dưng ai dễ đem phần đến cho” nên “của biếu là của lo, của cho là của nợ”

Người Việt Nam cũng quan niệm từ ăn lên tới thưởng thức. Thưởng thức không đơn thuần là một vị mà bằng một giác quan. Giáo sư Trần quốc Vượng đã tổng kết lại bằng một câu là: “ Tôi ăn uống bằng tổng thể tôi”, do đó khi ăn, người ta chú ý đến cả vị giác, thính giác,thị giác và khứu giác.

Qua ăn uống, người Việt Nam cũng biểu hiện quan hệ với cộng đồng, từ gia đình với bữa cơm gia đình đến họ hàng làng nước trong những dịp lễ tết, khao vọng, giỗ chạp, hội hè, yến tiệc. Trong cộng đồng gia đình, các thành viên thường quây quần xung quanh mâm cơm với những món ăn chung và chén nước măm chung. Trong bữa ăn của người Việt cũng đề cao tính tôn ti trật tự ( mời cơm trước và sau khi ăn, hay những người gìa cả thì được ngồi mâm trên…).

Ăn uống của người Việt còn mang tính hướng ngoại. Người ta có thể rất tiết kiệm, giản dị trong bữa ăn hàng ngày nhưng lại rất hào phóng đến mức hoang phí trong yến tiệc, hội hè, khao vọng bởi trong đó có vấn đề danh dự và sĩ diện

“ Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”

Nói tóm lại, ăn là văn hoá lớn của người Việt Nam, qua ăn người Việt phân biệt văn hoá:

1. Ăn phân biệt giàu nghèo: “Đũa mốc mà chòi mâm son”

2. Ăn phân biệt vùng miền: “ Bữa ăn thấy thiếu dăm chùm ớt.

                                                  Mới thấy lòng ta nhớ Huế nhiều”

3. Ăn phân biệt giới tính, tuổi.

4. Ăn là chia sẻ, hướng ngoại: "Nhịn miệng đãi khách đường xa,

                                                      Ấy là dành để chồng ta đi đường"

5. Ăn thể hiện tính cộng đồng: "ăn một mình đau tức, làm một mình cực thân"

6. Và qua văn hoá ăn để giáo dục con người về: tính chăm chỉ: “ Có làm thì mới có ăn. Không dưng ai dễ đem phần đến cho”; tính tiết kiệm: “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”; ứng xử, đạo đức: “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “ăn tuỳ nơi, chơi tuỳ chốn”.v.v…

Ngày nay, cơ cấu bữa ăn có thay đổi nhiều do đời sống kinh tế xã hội đang không ngừng phát triển, nhưng những nét đặc trưng trên vẫn không mất đi. Bởi thế, chỉ cần nhìn vào văn hoá ăn của người Việt là chúng ta đã có thể hiểu dược tính cách Việt và tâm hồn Việt.

Hương Sen
Báo Đồng Nai

TÂM ĐIỂM

CÁC ĐỀ ÁN

Video