Đi tìm vật nuôi cho thế kỷ 21

28/04/2006
Cách đây chừng chục năm, chẳng mấy ai nghĩ có ngày nông dân Việt Nam có thể nuôi trong nhà từ đà điểu giống Australia, ngan Pháp đến gà Kabir từ Israel… Vậy mà “những con vật nuôi cho thế kỷ 21” ấy giờ đã có thể có mặt trên khắp các tỉnh, thành trong cả nước, giúp nhà nông có lợi cả tỷ đồng. Điều kỳ diệu ấy có công của những người phụ nữ bình dị ở Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương - địa chỉ tin cậy của nông dân trong cả nước.

“Ấp một mẻ trứng như ngâm một mẻ rượu”

 

Câu nói của chị Bạch Thị Thanh Dân – Phó Giám đốc Trung tâm như ngầm nhắc những đòi hỏi không thể thiếu của mỗi cán bộ nghiên cứu gia cầm: Sự tỉ mỉ, chính xác và nhất là phải có tâm huyết. Trong một tập thể thân thiết của các cán bộ khoa học nữ ở đây, tôi vẫn gặp cung cách cởi mở, nhiệt tình và có phần vất vả của những người có duyên nợ với nhà nông. Là những cán bộ khoa học, nhưng nếu nghĩ các chị chỉ quen đạo mạo với áo blue trắng trong phòng lab vô trùng thì lại hoàn toàn không đúng. Nói như chị Dân: “Nghiên cứu gia cầm phù hợp với phụ nữ, nhưng phải là những phụ nữ không sợ bẩn, sợ khổ. Điều này có lý khi ngoài quãng đườngtừ trung tâm Hà Nội đến cơ quan dài tới 17 km thường mù mịt bụi, các chị còn phải thường xuyên tiếp xúc với phân gio, phải dành hầu hết thời gian trong bộ đồ bảo hộ, đi ủng, bế trên tay từ chú gà mới nở đến chú ngan Pháp to kềnh….Vậy mà chính những khó khăn ấy lại gắn kết họ để thực hiện hàng núi công việc của một trong những trung tâm nghiên cứu đầu ngành. Những ngày đầu thành lập trung tâm, máy móc, phương tiện thiếu trăm bề, các kỹ sư thường phải trông vào kinh nghiệm, hầu hết các nghiên cứu phải làm chay, làm thủ công. Trong thời kỳ đất nước bắt đầu bước vào thời kỳ đổi mới, sự bất ổn trên thị trường và những đôi thay trong quản lý kinh tế đã khiến không ít cơ sở chăn nuôi chao đảo và giải thể.

 

Lúc ấy, là một trung tâm còn rất non trẻ, thiếu thốn đủ bề, đã có người nghĩ Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương cũng phải bỏ cuộc khi không ít đề tài dở dang đã phải chịu phá sản chỉ vì thiếu kinh phí. Vậy mà chính trong những ngày tháng gian nan ấy, những người phụ nữ này vẫn kiên trì vượt lên vất vả đời thường để làm khoa học. Chị Thu là vợ thương binh, một nách hai con nhỏ, chị Khanh hai vợ chồng đều làm nông nghiệp, lo được cho cả gia đình là gánh nặng kinh tế tưởng không thể gượng lên nổi…Lương tháng ít ỏi, cơ quan lại cách nhà tương đối xa trong khi công việc đòi hỏi quan sát, cân đo, ghi chép mỗi ngày, nhiều chị đã phải vừa nghiên cứu vừa trực tiếp bán thức ăn gia súc hoặc chăn nuôi gà vịt ngay trong ngôi nhà chật hẹp của mình để có thêm thu nhập. Vậy mà các chị vẫn bế con cả vào phòng ấp để không bỏ lỡ việc ghi chép, vẫn tất tả đạp xe xuống các tỉnh trong biên độ 100 km để dạy bà con nông dân cách áp dụng đề tài, triển khai các thành tựu khoa học kỹ thuật.

 

Cái đích của nghiên cứu chính là thực tiễn

 

Hơn mười năm vất vả cũng là quãng thời gian các chị nâng mình lên trong học vấn và kinh nghiệm công tác. Nhìn các chị tất tả trong những chuồng ngan, chuồng gà không khác những nông dân thực thụ, khó ai nghĩ là tác giả của những đề tài đang được hàng triệu nông dân áp dụng. Từ chị Hoài Tao say sưa với những nghiên cứu tạo dòng gà Rhoden, đến Tiến sỹ Mạc Thị Quý nghiên cứu chuyên sâu về ngan, ngỗng Rheiland; từ chị Nguyễn Thị Khanh là một chuyên gia về gà Tam Hoàng 882 đến Tiến sỹ Bạch Thị Thanh Dân là người đầu tiên ở nước ta cho ấp thành công trứng đà điểu…Đề tài nghiên cứu quy trình nuôi gà thịt sinh sản đã làm tăng thêm số trứng của mỗi gà mẹ khoảng 50 qủa mỗi năm, đem lại lợi nhuận cho sản xuất 4,2 tỷ đồng. Các dòng ngan Pháp sau quá trình nghiên cứu đã tạo ra hơn 100.000 ngan bố mẹ với giá thấp hơn giá ngoại nhập 5,5 tỷ đồng. Rồi công trình ấp trứng ngan kiểu mớinâng tỷ lệ ấp nở thêm 15-20%, làm lợi cho người chăn nuôi hơn 4 tỷ đồng. Tính sơ sơ, chỉ với 4 trong 19 đề tài được công nhận là tiến bộ khoa học, các chị đã làm lợi cho sản xuất gần 20 tỷ đồng.

 

Ở Đông Anh (Hà Nội), gia đình bà Vân là một trong những hộ tiên phong nuôi thử nghiệm giống gà Kabir do Trung tâm cung cấp. Với số vốn 2,5 triệu đồng, sau một năm chăm sóc, gia đình bà đã thu về cả vốn và lãi được 18 triêu đồng, bởi ngoài năng suất và chất lượng cao hơn hẳn gà thường, mỗi con mái còn cung cấp từ 180-190 trứng mỗi năm. Những con gà “đẻ trứng vàng” này tuy mới chỉ đưa vào nuôi đại trà từ năm 2001 nhưng đã mang lợi cho hàng ngàn hộ ở Hà Nội, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Lào Cai…và đang được nhân rộng ra nhiều địa phương trong cả nước.

 

Những ý tưởng đang ở phía trước

 

Những thành công trong thực tế sản xuất càng khiến các chị say mê, miệt mài với những ý tưởng mới. Họ bận rộn phối hợp xây dựng các mô hình trình diễn và chuyển giao công nghệ cho các địa phương, đưa hàng triệu con giống ngan Pháp, gà Tam Hoàng, bồ câu Pháp vào sản xuất ở khắp các vùng kinh tế sinh thái trên phạm vi cả nước và cả nước bạn Lào, đạt hiệu quả kinh tế cao. . Hiện nay, Trung tâm đang thực hiện các nghiên cứu để có thể ấp nhân tạo thành công trứng trăn, trứng rắn và cả trứng cá sấu nhằm giúp nông dân đa dạng hoá vật nuôi, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn.

 

Hỏi kinh nghiệm thành công, các chị đều nói đó là do sức mạnh cá nhân và tập thể đều được phát huy “tổng lực”. Trong tập thể có mười bốn phụ nữ này, người ta không thấy sự cạnh tranh gắt gao, trái lại họ luôn hoà hợp, giúp đỡ nhau để hoàn thành công việc. Thay phiên nhau trực những ngày cuối tuần, giúp nhau ghi chép, tạo điều kiện tối đa để ai cũng có thể đi học và hoàn thành nghiên cứu mà mình hằng ấp ủ. Trong khó khăn, cái tập thể thân thương ấy thành ngôi nhà chung của sự chia sẻ và hoà hợp. Đó chính là sức mạnh để những người phụ nữ này trở thành “đầu tàu”, giúp hàng chục triệu nông dân Việt Nam tiếp cận và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, hội nhập khu vực và thế giới từ những “gia cầm của thế kỷ 21”.

 

 

Thục Hạnh

TÂM ĐIỂM

CÁC ĐỀ ÁN

Video