Quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ người bị hại, người làm chứng và những người thân thích của họ trong các vụ án hình sự
Vấn đề bảo vệ người bị hại, người làm chứng và những người thân thích của họ trong các vụ án hình sự (trong đó có các vụ án về mua bán người) được quy định trong các đạo luật chuyên ngành, trong đó đáng chú ý là quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS).
Trong BLTTHS năm 2003, một nguyên tắc đã được khẳng định: “Người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật” (Điều 7). Cụ thể hoá nguyên tắc này, BLTTHS năm 2003 đã quy định trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người làm chứng, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ khi tính mạng, sức khoẻ của người đó bị đe doạ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của họ bị xâm hại. Điều 55 BLTTHS năm 2003 cũng quy định: “Người làm chứng có quyền yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng”.
Bên cạnh BLTTHS, một số văn bản pháp luật khác cũng có những quy định về bảo vệ người làm chúng, người bị hại tham gia giải quyết các vụ án hình sự, giúp đỡ các cơ quan chức năng làm nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm, như:
- Quy định của Luật Công an nhân dân:
Luật Công an nhân dân năm 2005, khi quy định về chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, giúp đỡ Công an nhân dân quy định: “Nhà nước bảo vệ, giữ bí mật cho cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, giúp đỡ Công an nhân dân trong bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội” (khoản 1, Điều 13).
- Quy định của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự:
Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 quy định: “Trong phạm vi trách nhiệm của mình, Cơ quan điều tra phải xem xét, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố, thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan, tổ chức đã báo tin, kiến nghị, người đã tố giác tội phạm biết và phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm” (khoản 3, Điều 7).
- Quy định của Luật phòng, chống tham nhũng:
Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 đã đề cập tới trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tiếp nhận tố cáo và bảo vệ người tố cáo khi họ bị đe doạ, trả thù, trù dập: “Người đứng đầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền khi nhận được tố cáo hành vi tham nhũng phải xem xét và xử lí theo thẩm quyền, giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin khác theo yêu cầu của người tố cáo; áp dụng đồng thời các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố cáo khi có biểu hiện đe dọa, trả thù, trù dập người tố cáo hoặc khi người tố cáo yêu cầu; thông báo kết quả giải quyết tố cáo cho người tố cáo khi có yêu cầu.” (khoản 2 Điều 65).
- Quy định của Luật An ninh quốc gia:
Điểm h khoản 1 Điều 24 Luật An ninh quốc gia quy định: “Các cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người cộng tác, người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia”.
- Quy định của Luật phòng, chống ma tuý:
Phòng, chống ma tuý là lĩnh vực mà người làm chứng, người bị hại có nguy cơ bị tấn công hoặc bị xâm hại đặc biệt lớn. Chính vì vậy, điểm e khoản 1 Điều 13 Luật Phòng, chống ma tuý năm 2000 quy định: “Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý trong Công an nhân dân được áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố giác, người làm chứng và người bị hại trong các vụ án về ma tuý”.
Có thể nhận thấy rằng, phần lớn các quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ người làm chứng, người bị hại và người thân thích của họ trong các vụ án hình sự chỉ mang tính nguyên tắc, thiếu hướng dẫn cụ thể về biện pháp bảo vệ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền quyết định, lực lượng tiến hành bảo vệ, kinh phí để bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại; đồng thời, cũng không quy định trong những trường hợp cụ thể nào thì người làm chứng, người bị hại và thân nhân của họ được bảo vệ nên gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình tổ chức thực hiện (riêng trong lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia và phòng, chống tội phạm về ma tuý, xuất phát từ tính đặc thù của các lĩnh vực này, các cơ quan có thẩm quyền đã quy định khá cụ thể về đối tượng, phạm vi, trình tự, thủ tục, thẩm quyền và các biện pháp cụ thể để tiến hành bảo vệ người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ. Tuy nhiên, các quy định này chỉ áp dụng trong lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia và phòng, chống ma tuý).
Bảo vệ người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ trong các vụ án mua bán người được điều chỉnh chung cùng với các quy định về bảo vệ người làm chứng, người bị hại trong các vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS. Hiện nay, chưa có một văn bản chuyên ngành điều chỉnh riêng đối với việc bảo vệ những đối tượng này.