Quảng Ngãi: Phụ nữ Hrê tích cực biểu diễn cồng chiêng, chung tay bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc
Phụ nữ Hrê chơi chiêng ba ở nhà sàn văn hóa làng Teng, xã Ba Thành, huyện Ba Tơ Bước vào tuổi 82, tuổi cao, sức yếu, bà Phạm Thị Sỹ ở xã Ba Vinh, huyện Ba Tơ đã nghỉ hẳn chuyện nương rẫy. Phần lớn thời gian bà Sỹ chỉ ở nhà, quẩn quanh trên căn nhà sàn nhỏ. Thấy khách đến nhà, bà sẽ thể hiện trình diễn cồng chiêng cho mọi người nghe. Những nắm tay hằn đầy vết thời gian khi vung lên, hạ xuống đầy dứt khoát.
Chiêng Ba là nhạc cụ phổ biến nhất của người Hrê và mang tính đặc trưng tiêu biểu của của người Hrê ở huyện Ba Tơ. Theo dân làng, gọi là chiêng Ba bởi lẽ bộ chiêng này có 3 chiếc. Ba chiếc chiêng (còn gọi là chinh) có kích cỡ không bằng nhau. Chiếc lớn có tên là chiêng Vông, chiếc nhỏ hơn là chiêng Tum, chiếc nhỏ nhất là chiêng Túc. Đánh chiêng thì gọi là túc chinh.
Khi trình diễn, chiêng Vông được để nghiêng, chiêng Tum để nằm, chiêng Túc treo trên dây. Khi đánh thì chiêng Tum đóng vai trò giữ nhịp, chiêng Vông và chiêng Túc theo giai điệu. Chiêng Vông và chiêng Tum đánh bằng nắm tay trần, chiêng Túc đánh bằng nắm tay có quấn khăn để tiếng chiêng được ấm. Người đánh chiêng giỏi nhất sẽ đánh chiêng Túc, dẫn dần chiêng diễn tấu theo đúng bài bản và nhịp điệu. Khi diễn tấu dàn chiêng ba chiếc, người đánh chiêng ngồi ở vị trí ổn định, không di chuyển.
Được đúc bằng đồng, các chiếc chiêng đều khá nặng, nên việc đánh chiêng thường do đàn ông đảm nhận. Thế nhưng, vì say mê thứ âm thanh huyền bí và gắn bó máu thịt với dân tộc mình, nhiều người phụ nữ H’re vẫn tìm tòi, học cách sử dụng.
“Ngay từ nhỏ đã thuộc lòng nhiều làn điệu ta lêu, ca choi của người H’re. Cứ mỗi dịp lễ hội, đám cưới…, hòa cùng tiếng chiêng Ba và các nhạc khí khác, dân làng lại cùng nhau ca múa. Chiêng Ba làm nhiều người say mê lắm, cả người đánh lẫn người nghe. Khi đánh chiêng thấy lòng vui sướng, quên hết mệt nhọc, lo âu”, bà Sỹ nói.

Bà Phạm Thị Sỹ dù tuổi cao nhưng vẫn đánh chiêng ba một cách dứt khoát và làm người nghe say mê
Bà Sỹ nhớ như in, thời niên thiếu, dẫu cuộc sống còn nhiều khó khăn, nhưng nghe tiếng chiêng là lòng rộn ràng, háo hức, mọi người tập trung tìm đến. Thời gian, không gian đánh chiêng tùy thuộc vào gia chủ nhưng có lẽ thú vị nhất là khi đêm xuống. Giữa bóng tối, người làng tập trung bên bếp lửa bập bùng trước sân nhà sàn, trai tráng có cơ bắp khỏe mạnh lấy bộ chiêng Ba nhảy theo nhịp các cô gái hát múa ta lêu, ca choi. Người làng cũng thả hồn theo tiếng chiêng ngân. Tập tục của đồng bào Hrê là ăn Tết theo làng, theo xóm, hôm nay có thể làng này, ngày mai làng khác. Tiếng chiêng theo đó cũng rộn vang khắp núi đồi.
Ngoài bà Sỹ, còn một số phụ nữ khác ở Ba Tơ cũng biết chơi chiêng Ba, nhưng phần lớn họ đều đã lớn tuổi. Bà Phạm Thị Đệ (xã Ba Thành), cứ nhớ về những đêm trăng sáng bàng bạc khắp núi rừng, khi tiếng chiêng cất lên, bà lại hát điệu ca choi. Lời hát là tấm lòng của người con gái vừa trong lành vừa tha thiết, để những chàng trai rung động, ngỏ lời yêu. Thỉnh thoảng có dịp, bà Đệ cũng đánh chiêng, say mê và tự hào.
Người Hrê ở Quảng Ngãi sinh sống chủ yếu ở các huyện Ba Tơ, Sơn Hà và Minh Long. Tuy nhiên, chỉ có người Hrê ở huyện Ba Tơ, mới biết trình diễn chiêng Ba và trở thành nét sinh hoạt văn hóa truyền thống. Tuyệt đại đa số chiêng của người Hrê là dàn chiêng Ba chiếc được các gia đình lưu truyền, gìn giữ từ thế hệ này qua thế hệ khác như báu vật của gia đình. Trải qua hàng trăm năm, tiếng chiêng Ba trở thành âm thanh quen thuộc và gắn bó với lớp lớp người Hrê.
Theo quan niệm của người Hrê, chiêng là vật thiêng. Họ không sử dụng chiêng trong đám tang. Những người trong năm gặp rủi ro, thì không được đánh chiêng trong những ngày vui của dân làng. Nếu được mời đánh chiêng, họ cũng từ chối... Khi sử dụng chiêng phải thực hiện nhiều nghi thức tín ngưỡng, đặc biệt là nghi thức cúng chiêng.

Du khách đến tham quan, trải nghiệm đánh chiêng ba của đồng bào Hrê
Chiêng ba của người Hrê ở Ba Tơ có âm thanh hoang sơ rất lạ, rất riêng. Từ tiết tấu, nhịp điệu đến sự phối âm, phối bè, sử dụng công phu tài tình, tinh tế của người đánh chiêng, có khởi đầu, có cao trào, có kết thúc, khi trầm hùng khi náo nức khi rạo rực thổn thức, lúc cao trào mạnh mẽ, dồn dập, thôi thúc. Ngày xưa, những bộ chiêng Ba quý hiếm có giá trị hàng chục con trâu, tiếng không chỉ thanh mà còn trầm ấm, tạo nên âm thanh nghe sang trọng, mạnh mẽ, náo nức lòng người.
Tấu chiêng Ba hấp dẫn và khiến nhiều người say mê đến vậy nhưng rồi, cũng như các loại hình văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số ở nhiều nơi trên cả nước, hoạt động này đã bị thách thức bởi sự hòa nhập giữa văn hóa vùng cao với vùng đồng bằng. Những năm gần đây, chính quyền địa phương đã có nhiều nỗ lực trong việc phục hồi và giữ gìn văn hóa của người Hrê, trong đó có có chiêng ba. Hiện nay, ở hầu hết các xã trên địa bàn huyện đều duy trì được nghệ thuật trình diễn chiêng ba, tiêu biểu nhất là ở xã Ba Vinh.
Theo ông Lê Cao Đỉnh, Phó Trưởng Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Ba Tơ, nghệ thuật trình diễn chiêng ba của người Hrê, không chỉ là sinh hoạt văn hóa mà quan trọng hơn chính là lưu giữ những giá trị văn hóa, tín ngưỡng truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. “Thường ngày, họ bận rộn với ruộng đồng, nương rẫy cùng bao việc mưu sinh, nhưng sẵn lòng tham gia khi nghe lời mời đánh chiêng, tham dự các hội diễn văn nghệ quần chúng quảng bá chiêng ba. Họ yêu nhạc cụ truyền thống của dân tộc mình và mến người thích nghe tiếng chiêng gieo niềm vui vào lòng. Tuy nhiên, vấn đề đáng lo ngại hiện nay là lớp trẻ ít quan tâm, trong khi đó những người am hiểu lại ngày càng già đi, nhiều người đã mất. Địa phương đã và đang nỗ lực tìm cách giữ gìn văn hóa quý giá này”, ông Lê Cao Đỉnh chia sẻ.
| Người H’re huyện Ba Tơ rất coi trọng bộ chiêng Ba và cất giữ trong như tài sản quý. Hiện trên địa bàn có 890 hộ gia đình có chiêng, với trên 900 bộ chiêng Ba và 740 người biết sử dụng. Năm 2021, nghệ thuật trình diễn chiêng Ba của người H’re ở Ba Tơ được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hoá phi vật thể quốc gia. |