Phụ nữ với việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

07/11/2005
Phụ nữ - do đặc trưng giới tính - có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Nói đến bản sắc của một nền văn hoá là nói đến những gì có tính chất giá trị học, mang màu sắc giá trị. Như vậy, bản sắc văn hoá dân tộc chính là những phẩm chất truyền thống tốt đẹp, những giá trị tinh thần cao quý của nền văn hoá Việt Nam

Những phẩm chất truyền thống tốt đẹp và những giá trị tinh thần cao quý đó được biểu hiện trước nhất trong văn hoá văn nghệ dân gian. Mà văn hoá văn nghệ dân gian - như chúng ta đều biết - dẫu trải qua dâu bể thời gian vẫn đủ sức cùng đi trên phố với con người đương đại , hệt như hàng nghìn năm trước đã cùng đi trên đường làng với bao nhiêu thế hệ tiền nhân. Thì dẫu là của thời nào và ở nơi đâu - nông thôn hay thành thị, bên vành nôi tre hay bên vành nôi sắt - mọi trẻ thơ đều đắm mình trong lời hát ru của mẹ, của bà. Đương nhiên bố hay ông vẫn có thể hát ru con cháu - và nhiều khi hát hay nữa là khác - song chắc rằng ở giai đoạn sơ sinh, trẻ thơ thường gần gũi với mẹ, với bà và nhờ thế - qua từng lời hát ru dịu dàng của mẹ, của bà - những tình tự dân tộc cứ mưa dần thấm lâu, thấm sâu vào tâm hồn thơ trẻ .

 

Hạnh phúc thay cho những trẻ thơ có mẹ, có bà biết hát ru và hát ru thật hay, thật truyền cảm. Hồn dân tộc, chất dân tộc quyện trong lời hát ru êm ái - cùng với dòng sữa mẹ ngọt ngào - sẽ làm cho tâm hồn trẻ thơ trở nên cứng cáp mà mềm mại, đúng hơn là mềm mại mà cứng cáp đủ để sau này lớn lên có thể có được lòng khoan dung về văn hoá.

 

Nếu người phụ nữ không biết hát ru chỉ tự làm mất đi một phần sức mạnh thiên phú của mình trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, thì người phụ nữ không sử dụng thuần thục tiếng mẹ đẻ sẽ tự làm mất hầu hết sức mạnh ấy, nhất là trong trường hợp tiếng mẹ đẻ bị buộc phải đứng trước khả năng, thậm chí trước nguy cơ một ngôn ngữ phổ thông nào đó khuynh loát áp đảo. Có thể số đông phụ nữ Việt Nam sinh sống trong nước chưa trực tiếp cảm nhận được nhưng không ít phụ nữ Việt Nam định cư ở nước ngoài đang rất thấm thía về điều này. Rất thấm thía và rất lo lắng, bởi những con người xa-xứ-chứ-chưa-muốn-và-chưa-thể-xa-gốc-rễ-cội-nguồn kia làm sao có thể ung dung giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc khi mà cơ hội để giao tiếp bằng tiếng Việt trong cộng đồng dân cư sở tại và cả trong gia đình họ ngày càng trở nên quá sức hiếm hoi. Họ cảm nhận được viễn cảnh đáng buồn là không bao lâu nữa các thế hệ phụ nữ gốc Việt sau họ - và không chỉ riêng phụ nữ - sẽ không còn biết tiếng Việt, thậm chí không biết tiếng Việt như một hoài niệm xa xôi. Và một khi người mẹ, người bà không sử dụng thuần thục, thậm chí không biết sử dụng tiếng Việt thì khó mà hát ru con cháu bằng những làn điệu hát ru của quê nhà. Cố nhiên nhiều đàn ông Việt Nam định cư ở nước ngoài cũng có những cảm nhận như vậy, song tâm hồn phụ nữ vốn nhạy cảm tinh khôn và dường như yếu ớt mỏng manh hơn, nhờ thế mà cảm nhận của họ sâu sắc thấm thía hơn.

Trong bài viết có tên là Tản mạn áo dài, nhà văn Lý Lan dẫn lại ý kiến của một số người không đồng tình với việc phục hồi đồng phục áo dài trong nhà trường cho rằng: "Tại sao nữ sinh phái duy trì y phục dân tộc còn nam sinh thì mặc âu phục. Rõ ràng là kỳ thị: nam thì được khuyến khích Tây hoá còn nữ thì vẫn bị những ràng buộc truyền thống ngụy trang tính dân tộc kìm hãm”. Việc trả lời thật rốt ráo các câu hỏi nêu trên về áo dài có lẽ vẫn còn là một chuyện. . . dài. Tuy nhiên, ai muốn nói gì thì nói, chiếc áo dài rất đẹp, rất duyên dáng và đầy nữ tính của phụ nữ Việt Nam vẫn được nhiều người thừa nhận là trang phục phù hợp hơn cả với bản sắc văn hoá dân tộc, rất truyền thống mà lại rất hiện đại, và như mọi người đều biết hiện nay chiếc áo dài nghiễm nhiên được quan niệm như là sắc phục dân tộc, đúng hơn là được dùng như một bộ lễ phục trong hầu hết lễ nghi quan trọng cả ở cấp quốc gia và quốc tế. Sở dĩ phải nhấn mạnh áo dài là lễ phục nữ vì đang có xu hướng muốn phục hồi áo dài với tư cách là lễ phục nam. Cứ cho rằng đến lúc nào đó mặc áo dài như lễ phục không còn là đặc quyền của phụ nữ thì áo dài với tư cách là đối tượng của thấm mỹ học bao giờ cũng là địa hạt riêng của họ. Thật vậy người phụ nữ mặc áo dài không chỉ góp phần giữ gìn mà còn nhằm tôn vinh cái đẹp và đây chính là lý do khiến cho áo dài của phụ nữ Việt Nam cùng với sử thi Tây Nguyên, múa Thái, ca trù, nhã nhạc cung đình Huế…từng được đề nghị công nhận là di sản văn hóa phi vật thể thế giới.

Trên kia có nói những phẩm chất truyền thống tốt đẹp và những giá trị tinh thần cao quý của văn hóa dân tộc được biểu hiện trước nhất trong văn hoá văn nghệ dân gian - trước nhất chứ không phải là duy nhất. Những phẩm chất truyền thống tốt đẹp và những giá trị tinh thần cao quý ấy còn được biểu hiện trong các nghệ thuật cổ truyền như chèo, hát bội. . . cũng như trong các tập quán sinh hoạt cũ xưa một thời vang bóng; đồng thời còn được biểu hiện ngay trọng cách sống, lối sống, nếp sống của con người trong chính xã hội hôm nay. Dân tộc gắn liền với truyền thống mà cũng gắn liền với hiện đại, bởi truyền thống là cái từng hiện đại so với đương thời và cái đang hiện đại bây giờ có thể sẽ trở thành truyền thống trong mai hậu. Cho nên để phát huy vai trò của mình trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, người phụ nữ không những cần biết hát ru, biết sử dụng thuần thục tiếng mẹ đẻ, biết chăm lo việc- phải-việc-không theo kiểu xưa bày nay bắt chước mà còn phải biết từ mình tạo ra những phẩm chất truyền thống mới, những giá trị tinh thần mới. Trong vô vàn những cái mới sẽ nảy nở sinh sôi ấy, cần chú trọng đến phẩm chất nam nữ bình quyền. Thật ra đối với phụ nữ Việt Nam, nam nữ bình quyền không phải là cái gì hoàn toàn mới mẻ, thậm chí còn có thể nói đây là một truyền thống được hình thành và từng bị mai một, vì vậy cũng không phải là thiếu cơ sở và quá khó khăn để làm cho phẩm chất này sớm trở thành một giá trị tinh thần bền vững chi phối đời sống xã hội đương đại của chúng ta

Bùi Văn Tiếng – báo Thể thao – Văn hoá

TÂM ĐIỂM

CÁC ĐỀ ÁN

Video