Người phụ nữ say mê với công tác nghiên cứu huyết học

01/03/2013
Lầu đầu gặp, tôi rất ấn tượng với phong thái và vẻ đẹp đậm chất Hà Nội của chị, nếu không đọc trước những thông tin về chị, tôi nghĩ chị làm một công việc nào đó liên quan đến nghệ thuật hơn là dành trọn thời gian gần cả cuộc đời trong phòng thí nghiệm nghiên cứu về huyết học và truyền máu.

Chị là PGS.TS Bạch Khánh Hòa, nguyên Trưởng khoa Xét nghiệm sàng lọc máu, Viện Huyết học và truyền máu TW, giảng viên chính bộ môn Huyết học – Truyền máu, Đại học Y Hà Nội. Sinh năm 1955 trong một gia đình có truyền thống nghiên cứu khoa học, truyền thống đó đã hun đúc thành niềm đam mê cháy bỏng của cô sinh viên Y khoa cách đây 40 năm. Tốt nghiệp Đại học, chị trở thành bác sĩ xét nghiệm tại khoa Huyết học và Truyền máu, Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội. Bên cạnh nhiêm vụ thực hiện một số xét nghiệm phục vụ cho chẩn đoán, chị cùng đồng nghiệp tiến hành nghiên cứu trong lĩnh vực chuyên sâu Miễn dịch Huyết học.

Chị say mê học tập và không ngừng nghiên cứu với mong mỏi ngày càng có nhiều kết quả nghiên cứu được đưa vào ứng dụng thực tiễn, chữa được các bệnh liên quan đến huyết học và truyền máu. Từ những thành công bước đầu về kỹ thuật nuôi cấy dòng tế bào, cấy hỗn hợp 2 dòng tế bào để xác định mưc độ hòa hợp giữa người cho và người nhận trong ghép tủy, cấy tế bào, thu hoạch nhiễm sắc thể...., chị trở thành một trong những người đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về HLA (kháng nguyên bạch cầu người), kết quả ứng dụng trong công tác ghép tạng và không thể thiếu trong hoạt động ghép tạng. Chị cũng là người đầu tiên ứng dụng và triển khai kỹ thuật bài bản để thực hiện sàng lọc các bệnh HIV, viêm gan B, C tại Việt Nam.

Năm 1990, chị bảo vệ thành công luận án Phó tiến sỹ khoa học với đề tài “Góp phần tìm hiểu hệ khánh nguyên bạch cầu ở Việt Nam, kỹ thuật phát hiện và ứng dụng”. Từ kết quả nghiên cứu này, chị tham gia lựa chọn người cho và người nhận để tiến hành ca ghép thận đầu tiên tại Việt Nam. Sự thành công của ca ghép tạng đầu tiên này đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong nền y học nước nhà. Ứng dụng các kết quả nghiên cứu, chị thường xuyên tham gia hỗ trợ các bệnh viện lớn triển khai công tác ghép thận, gan, đặc biệt ghép tủy đồng loại, phương pháp điều trị này mang lại kết quả rất tốt cho bệnh nhân. Những nghiên cứu về khánh nguyên hồng cầu, tiểu cầu, bạch cầu đoạn trung tính của chị mang tính ứng dụng cao, những kỹ thuật mới trong sàng lọc các bệnh lây truyền qua đường truyền máu như HIV, giang mai, HCV, HBV, sốt rét, góp phần tạo ngân hàng máu sạch phục vụ công tác điều trị, góp phần ngăn chặn lây nhiễm bệnh lây truyền qua đường máu và sản xuất các bộ panel virut viêm gan B, viêm gan C phục vụ cho công tác ngoại kiểm các ngân hàng máu trên cả nước.

Sau chiến tranh, những người lính từng tham gia chiến trường B còn chịu nỗi đau và mất mát quá lớn bởi vấn đề rối loạn nhiễm sắc thể, sinh con dị tật hoặc vô sinh. Để tìm ra lời giải giúp họ vơi bớt nỗi đau, chị và các đồng nghiệp lao vào nghiên cứu “Hậu quả di truyền của chất diệt cỏ và làm trụi lá đối với con người Việt nam”. Vượt qua những khó khăn của thời kỳ thiếu thốn các phương tiện phục vụ cho nghiên cứu cũng như nguy cơ phơi nhiễm chất độc dioxin, lây nhiễm các bệnh qua đường máu trong quá trình thực hiện nghiên cứu, lấy mẫu các mẫu bệnh phẩm mà không có trang bị bảo hộ đảm bảo an toàn, chị vẫn cùng các đồng nghiệp miệtmài công việc.Năm 2002, chị tiếp tục tham gia nghiên cứu đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu các biến đổi về di truyền, miễn dịch, sinh hóa, huyết học và tồn lưu dioxin trên các đối tượng bị phơi nhiễm có nguy cơ cao”. ”. Đề tài có quy mô lớn và tương đối toàn diện, có giá trị sử dụng trong chẩn đoán, điều trị nạn nhân chất độc hóa học. Các kết quả nghiên cứu của chị và đồng nghiệp không chỉ mang tính ứng dụng cao mà còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, trở thành bằng chứng khoa học để tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ, góp phần buộc Mỹ phải có trách nhiệm đối với hậu quả chiến tranh tại Việt Nam.

Hơn 30 năm làm công tác nghiên cứu, chị đã tham gia chủ trì 04 đề tài cấp bộ, 07 đề tài cơ sở; tham gia nghiên cứu 02 đề tài cấp nhà nước, 01 đề tài cấp thành phố; công bố trên 66 bài báo về các công trình nghiên cứu khoa học đăng ở các tạp chí chuyên ngành quốc tế và trong nước.

Bên cạnh công tác nghiên cứu, chị còn đảm nhận công tác đào tạo sinh viên, thạc sỹ, tiến sỹ tại trường Đại học Y Hà Nội và hướng dẫn, chuyển giao kỹ thuật mới cho các bác sỹ tại nhiều bệnh viện trong cả nước.Chị còn là tác giả của nhiều tài liệu, giáo trình, sách chuyên ngành huyết học có giá trị. Với chị được nghiên cứu khoa học, truyền được đam mê, tâm huyết trong nghiên cứu cho các thế hệ trẻ là niềm hạnh phúc mà chị vô cùng trân trọng.

Ghi nhận những cống hiến và đóng góp của chị cho nên y học nước nhà, chị vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu thầy thuốc ưu tú và nhiều bằng khen khác.

Đặc biệt, chị vinh dự được Ủy ban Giải thưởng Kovalevskaia trao tăng Giải thưởng Kovalevskaia năm 2012, giải thưởng cao quý dành cho các nhà khoa học nữ.

 

Hải Bình- Ban Tuyên giáo

TÂM ĐIỂM

CÁC ĐỀ ÁN

Video