Mùa Xuân về, đọc và suy ngẫm “Bài ca thách cưới”
Mỗi năm khi mùa Xuân đến, tôi lại nhớ đến bài ca dao giản dị của người Thái, huyện Như Thanh, Thanh Hóa - Bài ca thách cưới. Bài thơ không nói về đám cưới linh đình với những mâm cao, cỗ đầy mà nói về một lễ tục quan trọng, đó là “thách cưới” với những câu từ giản dị nhưng thấm đẫm tình người.
Bài ca thách cưới
Yêu nhau dăm miếng trầu cau
Giấu thày,giấu mẹ đi sau bóng đèn
Chàng ơi đi lại cho quen
Để cho hai họ kết nguyền duyên tơ
***
Thông gia như ruộng liền bờ
Nhà em mong được rể, nhà anh chờ được dâu
Người ta thách ngựa thách trâu
Em đây chỉ thách một sào khoai lang
***
Củ to em để mời làng
Còn bao củ nhỏ họ hàng đông vui
Thế còn củ sứt chàng ơi
Để cho con trẻ ăn chơi vui nhà
***
Lại còn củ mối, củ hà
Gọt cho con lợn con gà phí chi
Hết thì đã có rừng tre
Yêu nhau chẳng quản vượt khe băng đèo!
(Ca dao dân tộc Thái - Như Thanh - Thanh Hoá)
“Bài ca thách cưới” là ca dao truyền miệng nhiều đời nay của đồng bào nơi đây. Mở đầu bài thơ hết sức mộc mạc, lấy miếng trầu cau làm khởi điểm cho sự qua lại của đôi trẻ, của hai nhà để tiến tới một mối quan hệ gần gũi, thân thiết (thông gia như ruộng liền bờ). Sự qua lại lúc đầu còn ngượng ngùng, e thẹn (giấu thày, giấu mẹ) dần dần trở nên công khai hơn, trở thành chuyện đại sự của hai họ. Hạnh phúc của đôi lứa phù hợp với niềm mong đợi và nguyện vọng của hai nhà (nhà em, nhà anh). Ai bảo người con gái bị động trong tình yêu, chính cô là người “thách cưới” đấy chứ. Cái cách thách cưới của cô mới đơn sơ giản dị làm sao - khoai lang - phẩm vật luôn có sẵn của đồng bào dân tộc miền núi. Nào có mâm cao cỗ đầy gì đâu, chỉ với “một sào khoai lang” cũng đủ thết đãi hết thảy mọi người: dân làng, họ hàng, con trẻ… đến con lợn, con gà cũng có phần. Bài ca dao dường như đã vẽ nên một bức tranh sinh động, hứa hẹn cuộc sống lứa đôi vui tươi hạnh phúc. Cuộc sống ấy càng có cơ hội trở nên bền vững khi “hết thì đã có rừng tre” - tre lại là một phẩm vật quen thuộc khác với người dân nơi đây. Ai đã đến với miền núi Như Thanh, nhìn thấy bạt ngàn màu xanh của tre nứa thì mới cảm nhận được sự sống bất diệt nơi đây. Tình yêu không thể lụi tàn khi tre già, măng lại mọc; đôi trẻ không sợ đói rách khi song hành với tình yêu, sự kiên trì dũng cảm, họ lại có cả một rừng tài nguyên vô tận như vậy.
Khi mới đọc bài thơ thì thấy trúc trắc, lời thơ có vẻ không nuột nà như những bài ca dao lục bát, đúng ra thì một câu của khổ thứ hai đã phá luật sáu tám (Nhà em mong được rể, nhà anh chờ được dâu) nhưng cũng khó mà sửa cho hay và ý nghĩa hơn được. Cái “sự lệch” ấy như nét chấm phá riêng, tạo cái duyên độc đáo cho bài thơ, lại chuyển tải được mong ước của gia đình hai bên. Tình yêu thể hiện sự mong chờ và tình thông gia gắn kết chính là kết quả của mong mỏi, đợi chờ. Bài thơ như lời tâm sự, dặn dò theo lối kể chuyện chân thật của đồng bào dân tộc mà lại tha thiết lạ thường…
“Bài ca thách cưới” gợi cho tôi nhớ về Như Thanh - vùng quê thứ hai của mình, nơi cha mẹ tôi theo sự phân công của Đảng - mang cái chữ từ miền xuôi lên dạy cho đồng bào dân tộc miền núi. Bài thơ nhắc tôi nhớ về mùa đông xóm núi giá rét với những củ khoai nướng thơm lừng, nóng bỏng. Đặc biệt, bài thơ sẽ mãi mãi gợi nhắc tôi về Mùa Xuân của thời thơ ấu với những cánh hoa đào, hoa mơ thấp thoáng sườn đồi, với hình ảnh những đám cưới đi bộ từ bản này sang bản khác, cô dâu chú rể ăn mặc giản dị, họ kiên trì vượt qua những sườn đồi để đi đến bến bờ hạnh phúc. Tôi thầm ước có dịp được về mảnh đất Như Thanh trong tiết Xuân thì, lại được chứng kiến những đám cưới mùa Xuân như thế...
Hà Nội, Xuân Mậu Tý 2008