Duyên dáng nữ phục dân tộc Lự
Cổ đeo vòng được nối hai đầu bằng chuỗi dây xà tích bằng bạc, đầu đội khăn cuốn nghiêng về phía trái, để lộ đằng trước với những đường gấp viền hoa văn chạy dọc. Hoa văn dệt kết hợp với kỹ thuật ghép vải. Cổ áo liền với nẹp ngực gồm 5 miếng vải khác màu khâu cầu kỳ tạo thành. Miếng vải ở giữa được đáp những quả hình trám màu xanh đỏ nối tiếp nhau. Tay áo dài, may thon dần về phía cổ tay viền một vòng vải hoa nhỏ, sát nách có thêu hoa văn chạy vòng quanh ống tay. Trên thân áo bên trái thêu một đường chỉ nhỏ hình dóng trúc chạy từ cổ thẳng xuống vạt áo bằng chỉ nhiều màu. Khi mặc, vắt chéo thân bên trái sang phía sườn phải và buộc hai dây vải với nhau, dây được buông thõng tới gần đầu gối, khi bước đi hai dải dây đung đưa tạo nên sự uyển chuyển, mềm mại của người phụ nữ.
Điều đặc biệt là hàng ngày phụ nữ Lự thường mặc từ 2-3 chiếc váy cùng một lúc, chúng được lồng vào nhau thành nhiều tầng, theo chiều cao dần. Đồng bào quan niệm mặc như vậy vừa kín đáo vừa đẹp, vừa có thể thay đổi cho nhau khi chiếc váy ngoài đã cũ. Váy được tạo bởi ba miếng vải khác nhau, hình ống và chia làm ba phần gồm cạp, thân và chân váy. Cạp váy bằng vải bông nhuộm nâu, không trang trí hoa văn. Thân váy bằng vải tơ tằm được dệt trên một khung cửi riêng, kỹ thuật dệt phức tạp đòi hỏi sự khéo léo của người dệt để tạo thành những hoa văn theo ý thích. Thân váy cải hoa văn thành hai phần rõ rệt. Nửa thân tiếp giáp với cạp váy bằng vải tơ tằm màu nâu, trên có dệt xen nhiều sọc màu vàng và đỏ chạy song song theo chiều ngang của váy. Nửa thân sau giáp với chân váy bằng vải tơ tằm có dệt hoa văn, thêm vào đó là những phần thêu bằng len. Hoa văn nổi bật ở thân váy quả trám, xen kẽ giữa hai quả trám là hình hai người quay lưng vào nhau tay dang ra hai bên. Chân váy bằng vải bông nhuộm đen, gấu váy viền vải hoa. Kết thúc là hoa văn các hình tam giác xanh và đỏ xen kẽ nhau. Thắt lưng bằng vải mộc trắng, mỗi đầu thêu 6 đường hoa văn chạy ngang, đường thứ 4 được thêu cầu kỳ hơn và ở đuôi thắt lưng để nhiều tua sợi, khi thắt họ gấp đôi khổ vải, buộc sang cạnh sườn bên trái, để thõng hai đầu dây cho mềm mại.
Với người phụ nữ dân tộc Lự ở Bình Lư (Tam Đường, Lai Châu) thì chiếc trâm cài đầu ngoài chức năng là một vật dụng để giữ tóc, mang ý nghĩa làm đẹp; đó còn là lễ vật của gia đình nhà trai mang sang nhà gái, tặng cô dâu trong ngày cưới. Họ cũng dùng khái niệm “tẳng cẩu” để chỉ búi tóc ngược trên đỉnh đầu của người phụ nữ, nhưng hoàn toàn không là dấu hiệu của người phụ nữ đã có chồng như dân tộc Thái đen. Khoảng 14-15 tuổi các cô gái bắt đầu tẳng cẩu, bắt đầu dùng trâm cài đầu. Chính vì vậy mà họ không có nghi lễ tẳng cẩu như người Thái đen. Chiếc trâm cài đầu này thường do bố mẹ sắm cho con gái khi đến tuổi làm đẹp, đến tuổi nhuộm răng đen. Trâm cài đầu có thể bằng bạc, ngà voi, xương súc vật hoặc bằng gỗ, thậm chí bằng lông nhím, tuỳ điều kiện mỗi gia đình; ngày nay họ thường dùng trâm cài đầu bằng nhôm. Còn trong ngày cưới, chiếc trâm cài đầu do gia đình nhà trai mang sang tặng cô dâu thường bằng bạc, đính kèm một sợi xích nhỏ bằng bạc. Trong ngày cưới, cô dâu dùng cả chiếc trâm cài đầu do bố mẹ cho hồi nhỏ và chiếc trâm do nhà trai tặng. Sau ngày cưới, họ thường dùng chiếc trâm bố mẹ cho, còn chiếc kia sang trọng hơn để dành khi đi dự đám cưới, hội hè hoặc các cuộc vui cần trưng diện... Những chiếc trâm cài đầu này sẽ theo họ đi hết cuộc đời, các cụ bà tóc bạc lơ thơ cũng vẫn dùng trâm cài đầu.
Trang phục của phụ nữ Lự là nét đẹp văn hóa độc đáo, có vai trò to lớn trong kho tàng văn hoá các dân tộc Việt Nam, là niềm tự hào về một nét văn hoá đặc trưng cần được bảo tồn, kế thừa và phá triển.