Chợ phiên rẻo cao
Ðã hơn mười năm, tôi mới có dịp về bản Khun Khuông, Nhân Lý, Chi Lăng (Lạng Sơn). Dù năm tháng trôi qua, tôi vẫn nhớ những kỷ niệm vui, buồn ở mảnh đất nhọc nhằn gian khó, mà giờ đây đang bứt phá đi lên, bằng mồ hôi công sức của mình. Vừa bước chân vào nhà, bà bác tôi đã trách:
- Ái chà, tưởng mày quên già này rồi, "lầm pay háng, kin lẩu", quên cả đi chợ chơi uống rượu à.
Thú thật là những năm qua, chỉ vì ngại trèo đèo, lội suối hàng giờ đồng hồ mới tới bản cho nên tôi ít khi về. Nơi đây bốn bề núi bao bọc, như cách biệt với thế giới bên ngoài. Cứ bước chân ra khỏi nhà là leo núi, ngửng đầu là thấy núi trước mặt, với tay là "chạm" vào mây. Người dân nơi đây quanh năm suốt tháng chỉ quanh quẩn bên ruộng, vườn. Họa hoằn lắm một tháng mới đi chợ sắm lít dầu, cân muối, mọi thứ đều tự cung, tự cấp.
Bây giờ thì bản Khun Khuông đã khác xưa, cái khốn khó đã lùi xa, chỉ còn trong ký ức của những người cao tuổi. Ðến bản, tôi không khỏi ngạc nhiên, 40 nóc nhà đều đã có điện thắp sáng, cứ hai nhà có một máy thu hình, xe máy... Ðám con gái trong bản không còn cõng thóc ra bờ suối, nhờ sức nước giã gạo, cả ngày mới được cối gạo trắng. Trong bữa cơm chiều, bà bác tôi trầm tư nói:
- Tưởng đời tao không được ngồi cái xe sắt, nó chẳng ăn cỏ như con ngựa, mà lại đi nhanh như gió, có điện sáng thâu đêm. Ðám con cháu bây giờ giỏi lắm. Ði chợ phiên không phải thức từ hai, ba giờ sáng hay phải đi ngủ nhờ ở bản khác cho kịp chợ phiên, cái chân cũng không sợ mỏi.
Nói rồi bà cười móm mém, đôi mắt xa xăm như gợi nhớ về một thời con gái, sớm chiều lam lũ trên đồi nương.
Ðêm vùng cao, mới chớm đông mà đã lạnh se sắt. Không khí khô ráo, êm dịu, tràn đầy hương vị của cỏ cây. Trong nhà phảng phất mùi lúa chín mới thu về. Ngồi bên bếp lửa đỏ rực, thỉnh thoảng bà bác tôi lại húng hắng ho, đôi bàn tay gầy guộc, kều những cục than đỏ rực, lửa cháy kêu lách tách, tạo thành những đốm lửa nhỏ li ti. Biết tôi về quê ngoại, mới chập tối cả đám thanh niên trong bản kéo đến nhà bác tôi hỏi han đủ mọi thứ chuyện trên đời. Ðể bà bác tôi phải nhắc khéo:
- Thôi ngủ đi cháu ạ, để mai còn đi kịp chợ phiên.
Mới sáu giờ sáng, sương mù mỏng manh lơ lửng trên những cánh rừng xanh sẫm. Bầu trời im lìm trắng dịu ló ra khỏi khu rừng mà cả bản Khun Khuông đã bị đánh thức bởi tiếng xe máy rú ga chở hàng vang dội cả góc rừng, xua tan không khí im ắng. Rồi tiếng bọn trẻ gọi nhau í ới đi học. Tiếng các bà, các chị giục nhau đi chợ, tất bật, vội vã với gánh hàng nặng trĩu trên vai, rảo bước nhanh cho kịp chợ phiên Bắc Thủy.
Ngồi đằng sau tay lái anh Hạnh, con trai bác tôi, chiếc xe
- Mới đầu mua xe về cũng mấy lần "cày" mặt đường, nhưng chỉ nhẹ thôi. Từ ngày có xe, phiên chợ nào anh cũng chở hàng ra chợ bán. Ði xe chỉ hết 15 phút là đến chợ, người nào không dám ngồi xe thì cuốc bộ, đến hết đoạn đường rừng, đã có xe khách chờ sẵn, chỉ sợ không có nhiều hàng bán thôi, nếu có thì cũng chẳng sợ đói.
Chợ Bắc Thủy, vài ba năm trước chỉ là một bãi đất hoang, nằm giữa trung tâm của các xã: Nhân Lý, Bắc Thủy, Lâm Sơn. Nghe các cụ nói từ thời thực dân Pháp xâm lược đã có chợ, vì đồn Pháp đóng ngay trên đỉnh đồi, chung quanh là trại lính khố đỏ, khố xanh, chúng bắt bà con về phục dịch, nên mới có nhu cầu trao đổi mua bán hàng hóa.
Nhiều năm qua, chợ cũng chỉ lèo tèo vài nóc nhà. Mỗi khi không họp chợ, khu bãi chợ đầy cỏ dại, vắng tanh, vắng ngắt. Khi ngày chợ phiên lại đông vui nhộp nhịp, bà con các dân tộc Tày, Nùng, Dao ở các làng lân cận đổ về, các thương lái ở tận các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang cũng chở hàng đến mua bán. Người đến bán hàng cũng chỉ trải một tấm bạt đủ rộng để bày các mặt hàng cần bán như: áo quần, đồ chơi trẻ em, bánh kẹo, hoa quả. Bà con ở các làng đem về nhiều hàng nông sản phẩm. Hàng được đựng trong thúng, tay nải, có người cũng chỉ đến bán đôi gà sống thiến, vài cân chè, cân măng, chai mật ong rừng... Những quán phở cũng chỉ dựng lên tạm bợ. Khi chợ tan lại vắng tiêu điều. Nhưng mới chỉ ba năm gần đây, chợ mới được đầu tư xây dựng, có mái che mưa nắng, có quầy hàng cho các hộ kinh doanh, trông quy củ hơn xưa rất nhiều.
Cùng mấy trai bản dạo qua một vòng chợ, giá cả ở đây rẻ đến bất ngờ. Mà cũng chính vì thế mà nhiều tư thương cứ đến chợ phiên lại lên các chợ vùng cao để mua hàng đưa về các thành phố, thị trấn bán. Giá một kg gà tơ cũng chỉ 30 nghìn đồng, chai mật ong 50 nghìn đồng, gạo nếp nương chỉ tám nghìn đồng/kg. Tôi thật bất ngờ, thấy đôi vợ chồng trẻ Lý Nam Bằng (dân tộc Dao), ở tận dưới chân núi Mẫu Sơn (Lộc Bình) cách xa hơn 30 km cũng về chợ. Nhận ra người quen, anh Bằng cười tít cả mắt, hồ hởi nói:
- Sáng sớm mới nhảy xe từ Mẫu Sơn đến để bán cam mà.
Tôi hỏi:
- Một cân cam bao nhiêu tiền?
-
Anh Bằng chưa nói dứt câu, chị vợ đã xen vào:
- Tao phải đi cùng, không thì nó bán hết cam lại lấy tiền đi uống rượu hết, không mang về nhà đâu.
Ai có dịp đến với các phiên chợ vùng cao mới thấy được tính phóng khoáng, chân chất và khảng khái của bà con các dân tộc. Mua, bán ít có sự mặc cả, cò kè, bớt một thêm hai, không lươn lẹo. Những sản vật được chắt chiu từ công sức mồ hôi, từ sự ưu ái của thiên nhiên ban tặng cho cuộc sống dung dị, đẹp đẽ như tấm lòng trắng trong của người vùng cao.
Còn nữa, hầu hết các phiên chợ vùng cao trên Xứ Lạng, mỗi tháng đều có năm phiên, ra ngày chẵn hoặc ngày lẻ, chợ đông nhất từ lúc 9 đến 11 giờ, sau đó là tan. Chợ Bắc Thủy ngày thường thì mở ngày ba và ngày tám hằng tháng, còn ngày chợ hội được mở vào ngày 6 tháng giêng, hội diễn ra từ sáng cho đến đêm. Khi Tết đến, xuân về khắp nơi trên những vùng rẻo cao Xứ Lạng người dân lại nô nức mở chợ hội Lồng tồng (xuống đồng), để cầu mong mưa thuận gió hòa, cho nhiều sản vật, có cuộc sống ấm no.
Nhớ lại những năm 80 của thế kỷ trước, mỗi dịp đi các chợ phiên, nhất là chợ hội, ở đâu cũng được nghe những làn điệu dân ca sli, lượn, của các chàng trai, cô gái dân tộc Nùng, Tày. Tiếng sli, lượn cất lên giữa chợ rất tự nhiên. Từ tiếng hát giao duyên đó để rồi từng đôi trai gái hò hẹn, tìm hiểu rồi nên vợ, nên chồng từ các chợ phiên. Lời của hát sli và lượn rất tình cảm, mượt mà và giàu hình ảnh. Hát sli, lượn của người Xứ Lạng cũng tương tự như hát quan họ của Xứ Kinh Bắc vậy, làm nên nét độc đáo của các chợ phiên vùng cao. Nhưng tiếc thay, những làn điệu dân ca ấy và cùng với những trang phục của bà con các dân tộc nơi đây, nay đã dần vắng bóng trong các chợ phiên. Nó chỉ còn là hoài niệm của những bậc cao niên, khi mỗi chợ phiên về.
Rời bản Khun Khuông, tôi nhớ mãi hình ảnh bọn trẻ trong làng, ngày ngày vượt qua đoạn đường đồi núi cả đi, về hơn 10 km để đến trường học, mà ngày nào cũng phải đến tối mịt mới về đến nhà để rồi hôm sau lại tiếp tục cuộc hành trình. Khi hỏi về ước mơ của mình cháu Nông Thị Hà, con anh Hạnh, nói:
- Cháu chỉ mong học được cái chữ để về bản mở trường học, không phải trèo đèo lội suối. Có chữ rồi sẽ làm ra hạt lúa, hạt ngô nhiều hơn, để rồi đem ra chợ phiên. Dù đã có nhiều đổi thay, song ước mơ về một cuộc sống khá giả hơn, bớt nhọc nhằn, khó nhọc vẫn còn hiện hữu trên vùng cao này.