Cây "bông cỏ" của người Cơtu
Bên cạnh sản xuất nương rẫy với cây lúa, cây hoa màu, người Cơtu sớm biết đến cây bông vải. Đây là một trong những cây trồng quan trọng bật nhất trong nền kinh tế tự cấp tự túc. Qua bao đời, họ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc canh tác cây bông vải. Đồng bào Cơtu có nhiều loại giống bông vải khác nhau như loại bông vải của người Kinh (kpay prâng) ở vùng đồng bằng được thuần hóa trên vùng đất núi; bông vải của dân tộc Lào (kpay lao) và giống bông vải bản địa, có từ lâu đời của người Cơtu (kpay plưng). Kpay lao thân to bằng cổ tay em bé 4 tuổi, cao thường từ 1,2 - 1,3m, cao lắm là 2m đối với những nơi đất tốt. Thân cây màu xanh nhạt, có nhiều cành, lá như cây dâu lai nhưng tròn hơn. Quả bông to nhưng không chắc. Kpay plưng có độ cao thấp hơn, chỉ dưới 1m. Thân cây nhỏ bằng ngón tay út của người lớn, vỏ cây mỏng và lá như lá mít. Quả bông nhỏ mà chắc và nở đều.
Thời gian trồng bông đến lúc thu hoạch khoảng 4 - 5 tháng, tức trồng từ tháng 2 - 3 cho tới tháng 6 - 7 thì thu hoạch. Quả bông khi xanh, vỏ rất cứng, lúc chín vàng thì nó lại nở ra thành 3 cánh xòe rộng như hình chóp nón. Hiện nay, đồng bào Cơtu ở làng Công Dồn, huyện Nam Giang còn bảo lưu các giống “bông cỏ” lâu đời này. Đây là một trong số làng dệt thổ cẩm theo lối truyền thống hiếm hoi còn được bảo tồn cho đến ngày nay ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên.
Cây của sự sống và sinh trưởng
Cây bông vải hay cây lanh chẳng những là thứ cây trồng làm nên nguyên liệu cho nghề dệt thổ cẩm mà còn là linh hồn của truyền thống tộc người. Đây là những cây trồng có liên quan sống còn đến việc bảo tồn di sản truyền thống và cũng là “cây của sự sống và sinh trưởng”. Với người Hmông ở phía Bắc, cây lanh đã tích lũy cho bao thế hệ một truyền thống văn hóa trang phục hết sức phong phú. Gia đình người Hmông nào cũng có một nương trồng cây lanh. Họ coi cây lanh là biểu tượng của dân tộc mình, cây lanh gắn bó với họ suốt đời, người Hmông tự hào nói rằng: Ở đâu có cây lanh thì ở đó có người Hmông sinh sống. Bộ váy áo lanh của họ không chỉ là đồ mặc thông thường mà còn là tín hiệu để nhận biết cội nguồn. Phụ nữ Hmông đã tạo ra đủ loại hoa văn, màu sắc tươi thắm, trầm ấm trên bộ váy áo của mình. Họ biết kỹ thuật dệt hoa văn bằng sáp ong giống với kỹ thuật batik - một trong những loại vải truyền thống nổi tiếng của
Còn với người Cơtu, cây bông đã cho họ một di sản quí giá từ kinh nghiệm canh tác bông vải, công cụ nghề dệt, bộ trang phục, sắc màu và hoa văn, những phong tục, tập quán, lễ hội gắn với trang phục. Đặc biệt, họ biết khai thác các loại cây có sẵn trong thiên nhiên để chế biến thuốc nhuộm, tạo màu sợi bông, từ sợi thô, đơn sắc thành bảng màu đa sắc. Thông qua công cụ, kỹ thuật, họ tạo nên những bộ trang phục với kiểu cách, sắc màu, hoa văn, bố cục phản ánh rõ nét thẩm mỹ quan tộc người. Nghề trồng bông dệt vải là một bằng chứng sinh động của sức sống, tiềm năng tri thức bản địa. Điều quý báu nhất là đồng bào Cơtu hiện còn nắm giữ, trao truyền nhiều bí quyết của nghề nghiệp, đặc biệt là kỹ thuật pha chế màu, kỹ thuật dệt hoa văn gợn sóng, hoa văn chỉ màu, hoa văn hạt cườm, tạo nên giá trị nổi trội của thổ cẩm truyền thống.
Nếu xem nghề dệt lanh, trồng bông dệt vải là yếu tố quan trọng để bảo tồn trang phục truyền thống, giữ gìn bản sắc dân tộc thì việc bảo tồn giống lanh, giống bông vải của đồng bào miền núi là việc làm quan trọng và thiết thực. Các cây trồng nêu trên góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân miền núi, tạo nên sắc thái văn hóa độc đáo của vùng Tây Bắc và núi rừng Trường Sơn.
Cây lanh trong đời sống người Hmông |